♫ Wish a lucky star will fall upon you, ...and make your wishes come true ♫
 
Trang ChínhPortalTrợ giúpĐăng kýĐăng Nhập









Forum chuyển tới http://chocolandno1.co.cc/ or http://chocoland.byethost6.com/


Lịch sử và nguồn gốc dân tộc Việt Nam Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down
Tác giả

avatar
..::Nh0c_tj::..
Thành viên tích cực
Nam
Age : 26 Registration date : 08/08/2008 Tổng số bài gửi : 597 Đến từ : Một nơi rất xa ! Job/hobbies : ko bít nữa ! :-) Humor : Măm & ngủ ^^


Bài gửiTiêu đề: Lịch sử và nguồn gốc dân tộc Việt Nam Sun Sep 21, 2008 8:32 am
Biên Cương Nước Việt Nam





A. Sơ tâm về tộc Việt


Tôi học chữ Nho trước khi học chữ Quốc-ngữ. Thầy khai tâm của tôi
là ông ngoại tôi. Ông tôi không có con trai, mẹ tôi là con út của
người. Theo luật triều Nguyễn, thì con trai ông tôi sẽ được "tập ấm".
Không có con trai, thì con nuôi được thay thế. Tôi là "con nuôi" của
ông tôi, nên người dạy tôi học để nối dòng Nho gia. Tôi cũng được "tập
ấm", thụ sắc phong của Đại-Nam Hoàng đế.

Năm lên sáu tuổi, tôi được học tại trường tiểu học do chính phủ Pháp mở
tại Việt Nam. Cũng năm đó, tôi được học chữ Nho. Thời gian 1943-1944
rất ít gia đình Việt-Nam còn cho con học chữ Nho, bởi đạo Nho cũng như
nền cổ học không còn chỗ đứng trong đời sống kinh tế, chính trị nữa.
Thú thực tôi cũng không thích học chữ Nho bằng chơi bi, đánh đáo. Nhưng
vì muốn làm vui lòng ông tôi mà tôi học. Các bạn hiện diện nơi đây
không ít thì nhiều cũng đã học chữ Nho đều biết rằng chữ này học khó
như thế nào. Nhưng tôi chỉ mất có ba tháng đã thuộc làu bộ Tam tự kinh,
rồi sáu tháng sau tôi được học sử.

Tôi được học Nam-sử bằng chữ Nho, đồng thời với những bài sử khai tâm
bằng quốc ngữ vào năm bẩy tuổi. Thời điểm bấy giờ bắt đầu có những bộ
sử viết bằng Quốc-ngữ, rất giản lược, để dạy học sinh, không bằng một
phần trăm những gì ông tôi dạy tôi. Thầy giáo (ở trường) biết tôi là
cái kho vô tận về sử Hoa-Việt, nên thường bảo tôi kể cho các bạn đồng
lớp nghe về anh hùng nước tôi. Chính vì vậy, tôi phải lần mò đọc những
bộ sử lớn viết bằng chữ Hán như "Đại-Việt sử ký", "Khâm định Việt sử
thông giám cương mục", "An-Nam chí lược", "Việt sử lược"... Đại cương,
mỗi bộ sử đều chép rất giản lược về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam như sau:

"Vua Đế Minh, cháu ba đời vua Thần-Nông, nhân đi tuần thú phương Nam,
đến núi Ngũ-lĩnh, kết hôn với một nàng tiên đẻ ra người con tên
Lộc-Tục. Vua lập đài, tế cáo trời đất, phong cho con trưởng làm vua
phương Bắc, tức vua Đế Nghi; phong con thứ là Lộc-Tục làm vua phương
Nam. Ngài dạy hai thái tử rằng: Nghi làm vua phương Bắc, Tục làm vua
phương Nam, lấy núi Ngũ-lĩnh làm cương giới. Hai người làm vua hai nước
nhưng vốn cùng gốc ở ta, phải lấy điều hiếu hòa mà ở với nhau. Tuyệt
đối Nam không xâm Bắc, Bắc chẳng chiếm Nam. Kẻ nào trái lời, sẽ bị
tuyệt tử tuyệt tôn".

Xét triều đại Thần-Nông, khởi từ năm 3118 trước Tây-lịch, đến đây thì chia làm hai:



1. Triều Đại Thần Nông Bắc:



- Vua Đế Nghi (2889-2884 trước Tây-lịch)

- Vua Đế Lai (2843-2794 trước Tây-lịch)

- Vua Đế Lai (2843-2794 trước Tây-lịch)

- Vua Ly (2795-2751 trước Tây-lịch)

- Vua Du Võng (2752-2696 trước Tây-lịch)


Đến đây triều đại Thần-Nông Bắc chấm dứt, đổi sang triều đại Hoàng
Đế từ năm Giáp-Tý (2697 trước Tây-lịch). Các nhà chép sử Trung-quốc lấy
thời đại Hoàng Đế làm kỷ nguyên. Trong bộ Sử-ký, Tư-mã-thiên khởi chép
quyển một là Ngũ đế bản kỷ, coi Hoàng Đế là Quốc-tổ Trung-quốc.



2. Triều Đại Thần-Nông Nam :


Thái-tử Lộc-Tục lên làm vua năm Nhâm-Tuất (2879 trước Tây-lịch),
hiệu là Kinh-Đương, lúc mười tuổi. Sau này người Việt lấy năm này làm
kỷ nguyên lập quốc. Nếu cộng chung, cho đến nay là 4872 năm, vì vậy
người Việt hằng tự hào rằng đã có năm nghìn năm văn-hiến.

Xét về cương giới, cổ sử chép: "Thái-tử Lộc-Tục lên ngôi, lấy hiệu là
vua Kinh-Đương (2), tên nước là Xích-quỷ, đóng đô ở Phong-châu nay
thuộc Sơn-tây. Vua Kinh-Đương lấy con gái vua Động-đình là Long-nữ đẻ
ra thái tử Sùng-Lãm. Thái tử Sùng-Lãm lại kết hôn với công chúa Âu-Cơ
con vua Đế-Lai (3). Khi vua Kinh Đương băng hà thái-tử Sùng-Lãm lên nối
ngôi vua tức vua Lạc-Long, đổi tên nước là Văn-lang. Nước Văn-lang Bắc
tới hồ Động-đình, Nam giáp nước Hồ-tôn, Tây giáp Ba-thục, Đông giáp
biển Đông-hải". Cổ sử đến đây, không có gì đáng nghi ngờ. Nhưng tiếp
theo, lại chép: "Vua Lạc-Long lấy công chúa Âu-Cơ sinh ra một bọc trăm
trứng, nở ra trăm con. Ngài truyền cho các hoàng tử đi bốn phương lập
ấp, tổ chức cai trị, giáo hóa dân chúng. Mỗi vị lập một ấp, sau trở
thành lạc-hầu, theo lối cha truyền con nối.

- Hoàng tử thứ nhất tới thứ 10 lập ra vùng hồ Động đình.

- Hoàng tử thứ 11 tới thứ 20 lập ra vùng Tượng-quận.

- Hoàng tử thứ 21 tới thứ 30 lập ra vùng Chân-lạp.

- Hoàng tử thứ 31 tới thứ 40 lập ra vùng Chiêm-thành

- Hoàng tử thứ 41 tới thứ 50 lập ra vùng Lão-qua.

- Hoàng tử thứ 51 tới thứ 60 lập ra vùng Nam-hải.

- Hoàng tử thứ 61 tới thứ 70 lập ra vùng Quế-lâm.

- Hoàng tử thứ 71 tới thứ 80 lập ra vùng Nhật-nam.

- Hoàng tử thứ 81 tới thứ 90 lập ra vùng Cửu-chân.

- Hoàng tử thứ 91 tới thứ 100 lập ra vùng Giao-chỉ.

Ngài hẹn rằng: Mỗi năm các hoàng tử phải về cánh đồng Tương vào ngày Tết để chầu-hầu phụ mẫu".

Một truyền thuyết khác lại nói:

Vua Lạc-Long nói với Âu-Cơ rằng: "Ta là loài rồng, nàng là loài tiên, ở
với nhau lâu không được. Nay ta đem năm mươi con xuống nước, nàng đem
năm mươi con lên rừng. Mỗi năm gặp nhau tại cánh đồng Tương một lần".
Các sử gia Việt tuy lấy năm vua Kinh-Đương lên làm vua là năm Nhâm-Tuất
2879 trước Tây-lịch, nhưng không tôn vua Kinh-Đương với công chúa con
vua Động-đình làm Quốc-tổ, Quốc-mẫu, mà lại tôn vua Lạc-Long làm quốc
tổ, và công chúa Âu-Cơ làm quốc mẫu. Cho đến nay, nếu các bạn hỏi trăm
người Việt ở hải ngoại rằng tổ là ai, họ đều tự hào: Chúng tôi là con
rồng cháu tiên, Quốc-tổ tên Lạc-Long, Quốc-mẫu tên Âu-Cơ.

Không phải sử gia Hoa-Việt cho rằng các vua Phục-Hy, Thần-Nông thuộc
huyền sử, hay không hẳn là tổ mình, mà cho rằng triều Phục Hy, Thần
Nông là tổ về huyết tộc, mà không phải là tổ chính trị. Bởi tại phương
Bắc từ khi Hoàng Đế lên ngôi vua, tại phương Nam Lạc-Long lên ngôi vua,
mới phân hẳn ra Việt, Hoa hai nước rõ ràng.



B. Chủ Đạo Tộc Hoa, Tộc Việt :


Như các bạn đã thấy, mỗi dân tộc đều có một chủ đạo, cùng một biểu
hiệu. Người Pháp các bạn cho rằng tổ tiên là người Gaulois, con vật
tượng trưng là con gà trống. Người Anh lấy biểu hiệu là con sư tử.
Người Hoa-kỳ lấy biểu hiệu là con chim ưng. Người Trung-hoa lấy biểu
hiệu là con rồng. Người Việt lấy biểu hiệu là con rồng và chim âu, gốc
tự huyền sử vua Lạc Long là loài rồng, công chúa Âu-Cơ là loài chim.

Người Do-Thái tự tin rằng họ là giống dân linh, được Chúa chọn. Vì vậy,
sau hai nghìn năm mất nước, họ vẫn không bị đồng hóa. Khi tái lập quốc,
với dân số bằng một phần trăm khối Ả-rập, nhưng họ vẫn đủ khả năng
chống với bao cuộc tấn công để tồn tại. Đó là nhờ niềm tin họ thuộc sắc
dân được Chúa chọn. Người Hoa thì tin rằng họ là con trời. Cho nên
trong các sách cổ của họ vua được gọi là Thiên-tử, còn các quan thì
luôn là người nhà trời xuống thế phò tá cho vua. Chính niềm tin đó cùng
với văn-minh Hoa-hạ, văn minh Nho giáo đã kết thành chủ đạo của họ. Cho
nên người Hoa dù ở đâu, họ cũng có một tổ chức xã hội riêng, sống với
nhau trong niềm kiêu hãnh con trời. Cho dù họ lưu vong đến nghìn năm,
họ cũng không bị đồng hóa, không quên nguồn gốc. Cũng chính vì vậy, mà
từ một tộc Hoa nhỏ bé ở lưu vực sông Hoàng-hà, họ đánh chiếm, đồng hóa
hàng nghìn nước xung quanh. Nhưng chủ đạo, và sức mạnh của họ phải
ngừng lại ở biên giới Hoa-Việt ngày nay.

Từ nguồn gốc lập quốc, từ niềm tin mình là con của Rồng, cháu của tiên,
cho nên người Việt có một sức bảo vệ quốc gia cực mạnh. Tộc Việt đã
chiến đấu không ngừng để chống lại cuộc Nam tiến liên miên trong hai
nghìn năm của tộc Hoa. Bất cứ thời nào, người Việt dù bị phân hóa đến
đâu, nhưng khi bị Bắc xâm, lập tức họ ngồi lại với nhau để bảo vệ quốc
gia. Trong những lớp phế hưng của lịch sử Việt, hễ ai dựa theo chủ đạo
của tộc Việt, đều thành công trong việc giữ được quyền cai trị dân.
Xem lý lịch thành viên

avatar
..::Nh0c_tj::..
Thành viên tích cực
Nam
Age : 26 Registration date : 08/08/2008 Tổng số bài gửi : 597 Đến từ : Một nơi rất xa ! Job/hobbies : ko bít nữa ! :-) Humor : Măm & ngủ ^^


Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử và nguồn gốc dân tộc Việt Nam Sun Sep 21, 2008 8:33 am
C. Đi Tìm Lại Nguồn Gốc Tộc Việt :


Năm trước, đồng nghiệp của tôi đã giảng cho các bạn sinh viên hiện
diện các giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, bao gồm:

- Thuyết của Giáo sư Léonard Aurousseau, về cuộc di cư của người U-Việt hay Ngô-Việt sang Âu-lạc.

-Thuyết của Claude Madroll về cuộc di cư của người Mân-Việt sang Âu-lạc.

- Thuyết của học giả Đào Duy-Anh, Hồ-Hữu-Tường, về sự di cư do thời tiết của người Việt từ Bắc xuống Nam.

- Thuyết của Trần Đại-Sỹ theo khoa khảo cổ, bằng hệ thống y-khoa ADN.

Cuối cùng các giáo sư đồng nghiệp đã nhận định rằng: Nhờ vào khoa khảo
cổ, nhờ vào hệ thống khoa học, từ nay không còn những giả thuyết về
nguồn gốc tộc Việt nữa, mà chỉ còn lại công cuộc tìm kiếm của tôi, rồi
kết luận: "Tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải rác từ phía Nam
sông Trường-giang: Đông tới biển, Tây tới Tứ-xuyên, Nam tới vịnh
Thái-lan. Người Việt từ Ngô-Việt di cư xuống phương Nam. Người Mân-Việt
di cư xuống Giao-chỉ. Người Việt di cư từ Nam sông Trường-giang tránh
lạnh xuống Bắc-Việt đều đúng. Đó là những cuộc di cư của tộc Việt trong
lĩnh thổ của họ, chứ không phải họ là tộc khác di cư tới đất Việt".

Chính vì lý do đó, tôi được mời đến đây đọc bài diễn văn khai mạc niên
khóa 1992-1993 này. Sau đây, tôi trình bày sơ lược về công trình nghiên
cứu đó. Tôi xin nhắc lại, tôi chỉ là một bác sĩ y khoa, cho nên những
nghiên cứu của tôi đặt trên lý luận khoa học thực nghiệm, cùng lý luận
y khoa, nó hơi khác với những gì mà các bạn đã học.





Phương Pháp Nghiên Cứu :
Trong việc đi tìm nguồn gốc tộc
Việt, tôi đã dùng phương pháp y khoa nhiều nhất, và phương pháp khoa
học mới đây. Tôi đã được giáo sư Tarentino về khoa Antomie của Ý và
giáo sư Vareilla Pascale của Pháp tích cực giúp đỡ.



1.Dùng Biện Chứng Y Khoa vào Khoa Cổ:



Biện chứng căn bản của người nghiên cứu y khoa là: "Khi có chứng trạng, ắt có nguyên do".

Biện chứng này đã giúp tôi rất nhiều trong khi nghiên cứu về nguồn gốc
tộc Việt. Khi nghiên cứu, những tài liệu cổ, dù là huyền thoại, dù là
huyền sử, dù là triết học, tôi cũng coi là chất liệu quan trọng. Như
tôi đã từng trình bày, nước tôi có một tôn giáo, mà toàn dân đều theo,
đó là thờ các anh hùng dân tộc. Tại những đền thờ chư vị anh hùng,
thường có một cuốn phổ kể sự tích các ngài. Vì theo thời gian, tiểu sử
các ngài bị dân chúng huyền thoại hóa đi, riết rồi thành hoang đường.
Cho nên những học giả đi tiên phong nghiên cứu về sử học Việt thường bỏ
qua. Tôi lại suy nghĩ khác: "Không có nguyên do, sao có chứng trạng".
Vì vậy tôi đã tìm ra rất nhiều điều lý thú.

Tỷ dụ: Bất cứ một nhà nghiên cứu nào, khi khảo về thời vua An Đương
cũng cho rằng truyện thần Kim-Quy cho vua móng, làm nỏ bắn một lúc hàng
nghìn mũi tên khiến Triệu Đà bị bại, là hoang đường, là "ma trâu đầu
rắn". Nhưng tôi lại tin, và cuối cùng tôi đã tìm ra sự thực: Hồi ấy
Cao-cảnh hầu Cao-Nỗ đã chế ra nỏ liên châu, như súng liên thanh ngày
nay. Tôi cũng tìm ra khích thước ba loại mũi tên đồng của nỏ này. (4)

Với lý luận y khoa, với anatomie, với lý thuyết y học mới về tế bào,
với những khai quật của người Pháp ở Đông Dương, của Việt-Nam, của
Trung-quốc cùng hệ thống máy móc tối tân đã giúp tôi phân loại xương
sọ, xương ống quyển, cùng biện biệt y phục của tộc Hoa, tộc Việt, rồi
đi đến kết luận về lãnh thổ nước Văn-lang tới hồ Động Đình.



2. Những Tài Liệu Cổ:


Ranh giới phía Nam của nước Văn-lang tới nước Hồ-tôn đã quá rõ
ràng. Còn ranh giới phía Tây với Ba-thục, phía Đông với biển lại tùy
thuộc vào ranh giới phía Bắc. Nếu như ranh giới phía Bắc quả tới hồ
Động-đình, thì ranh giới phía Tây chắc phải giáp Ba thục và phía Đông
phải giáp Đông hải. Vì vậy tôi đi tìm ranh giới phía Bắc.

Dưới đây là huyền thoại, huyền sử, mà tôi đã bấu víu vào để đi nghiên cứu.

- Cổ sử Việt đều nói rằng ranh giới phía Bắc tới hồ Động-đình.

- Truyền thuyết nói: Đế-Minh lập đàn tế cáo trời đất, rồi chia thiên hạ
làm hai. Từ Ngũ-lĩnh về Bắc cho Đế Nghi, sau thành Trung-quốc. Từ
Ngũ-lĩnh về Nam truyền cho vua Kinh Đương sau thành nước Văn lang.

- Truyền thuyết nói: Sau khi vua Kinh Đương, vua Lạc-Long kết hôn, đều
lên núi Tam Sơn trên hồ Động Ðình hưởng thanh phúc ba năm. Lúc ngài lên
núi, có chín vạn hoa tầm xuân nở.

- Truyền sử nói: Sau khi Quốc tổ Lạc Long, Quốc mẫu Âu Cơ cho các hoàng
tử đi bốn phương qui dân lập ấp, dặn rằng: Mỗi năm về Tương-đài trên
cánh đồng Tương chầu Quốc-tổ, Quốc-mẫu một lần.

- Cổ sử nói: Quốc-tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc-mẫu dẫn năm mươi
con lên núi, hẹn mỗi năm gặp nhau một lần ở cánh đồng Tương.

- Sử nói: Vua nước Nam-Việt là Triệu-Đà thường đem quân quấy nhiễu biên
giới Việt-Hán là Nam quận, Trường sa (Mậu-Ngọ, 183 trước Tây-lịch). Như
vậy biên giới Nam-Việt với Hán ở vùng này.

- Sử nói rằng: Khi Trưng-Nhị, Trần-Năng, Phật-Nguyệt, Lại-thế-Cường đem
quân đánh Trường-sa (năm 39 sau Tây-lịch) thì nữ tướng Trần-thiếu-Lan
tử trận, mộ chôn ở ghềnh Thẩm-giang. (Sự thực đó là Tương-giang thông
với hồ Động-đình). Sau đó ít năm có trận đánh giữa Lĩnh-Nam với Hán.
Tướng Lĩnh-Nam tổng trấn hồ Động đình là Phật-Nguyệt. Tướng Hán là
Mã-Viện, Lưu-Long (năm 40 sau Tây-lịch).Nhưng các sử gia gần đây đều
đặt nghi vấn rằng: Làm gì biên giới thời Văn-lang rộng như vậy, nếu có
chỉ ở vào phía Bắc biên giới Hoa-Việt hiện nay trăm cây số là cùng. Tôi
căn cứ vào những chứng trạng trên để tìm nguồn gốc.
Xem lý lịch thành viên

avatar
..::Nh0c_tj::..
Thành viên tích cực
Nam
Age : 26 Registration date : 08/08/2008 Tổng số bài gửi : 597 Đến từ : Một nơi rất xa ! Job/hobbies : ko bít nữa ! :-) Humor : Măm & ngủ ^^


Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử và nguồn gốc dân tộc Việt Nam Sun Sep 21, 2008 8:34 am
D. Đi Tìm Biên Giới Nước Văn Lang:1. Núi Ngũ-Lĩnh:



Cuối năm Canh-Thân (1980) tôi lấy máy bay đi Bắc kinh, rồi đổi máy bay ở Bắc kinh đi Trường sa.

Trường-sa là thủ-phủ của tỉnh Hồ-Nam. Tất cả di tích của tộc Việt như
hồ Động-đình, núi Tam-sơn, núi Ngũ-lĩnh, sông Tương, Thiên-đài,
Tương-đài, cánh đồng Tương đều năm ở tỉnh này.

Tôi đi nghiên cứu với một thư giới thiệu của giới chức cao cấp y học.
Không biết trong thư giới thiệu, các giới chức y-khoa Trung-quốc ghi
chú thế nào, mà khi tôi tiếp xúc với sở du-lịch, ty văn-hóa địa phương,
họ đều tưởng tôi tới Trường-sa để nghiên cứu về sự cấu tạo hình thể
cùng bệnh tật dân chúng tại đây. Thành ra tôi bị mất khá nhiều thời giờ
nghe thuyết trình của các đồng nghiệp về vấn đề này. Tôi cư ngụ trong
khách sạn Trường-sa tân điếm, năm trân đại lộ Nhân-dân. Tôi xin cuốn
địa phương chí mới nhất của tỉnh, rồi mò vào thư viện ty văn hóa, sở
bảo vệ cổ tích, đại học văn-khoa, lục lọi những tài liệu cổ, mà ngay
những sinh viên văn khoa cũng ít ai ghé mắt tới.

Đầu tiên tôi đi tìm núi Ngũ-lĩnh. Không khó nhọc, tôi thấy ngay. Đó là
năm dãy núi gần như ngăn đôi Nam, Bắc Trung-quốc.

- Một là Đại- Đữu lĩnh,

- Hai là Quế-đương, Kỳ-điền lĩnh.

- Ba là Cửu-chân, Đô-lung lĩnh.

- Bốn là Lâm-gia, Minh-chữ lĩnh.

- Năm là Thủy-an, Việt-thành lĩnh.

Về vị trí:

- Ngọ Thủy-an, Việt-thành chạy từ tỉnh Phúc-kiến, đến huyện Tuần-mai tỉnh Quảng-Đông.

- Ngọn Đại-đữu chạy từ huyện Đại-đữu (nam-an), tỉnh Giang-Tây đến huyện Nam-hùng tỉnh Quảng-Đông.

- Ngọn Lâm-gia, Minh-chữ chạy từ Lâm-huyện tỉnh Hồ-Nam đến Liên-huyện tỉnh Quảng Đông.

- Ngọn Cửu-chân, Đô-lung chạy từ Đạo-huyện tỉnh Hồ-Nam tới Gia-huyện tỉnh Quảng-Tây.

- Ngọn Quế-đương từ Toàn-huyện tỉnh Hồ-Nam tới huyện Quế-lâm tỉnh Quảng-Tây.

Lập tức tôi thuê xe, đi một vòng thăm tất cả các núi này. Tôi đi mất
mười ngày, gần 1500 cây số.Như vậy là Ngũ-lĩnh có thực, nay có núi đã
đổi tên, có núi vẫn giữ tên cũ. Một câu hỏi đặt ra: Tại sao khi vua
Minh phân chia từ Ngũ-lĩnh về Nam thuộc Lộc-Tục, mà lĩnh địa Việt tới
hồ Động đình, mà hồ ở phía Bắc núi đến mấy trăm cây số. Tôi giải đoán
như thế này:

- Một là vua Đế Minh tế trời trên núi Ngũ-lĩnh là nơi ngài gặp tiên,
rồi chia địa giới. Nhưng bấy giờ dân chưa đông, mà sông Trường-giang
rộng mênh mông, sóng lớn quanh năm, nên vua Nghi chỉ giữ tới Bắc-ngạn
mà thôi. Còn vua Kinh-Đương thì sinh trưởng ở vùng này, lại nữa lấy con
vua Động-đình (một tiểu quốc), nên thừa kế luôn vùng đất của nhạc gia.

- Hai là dân chúng Nam-ngạn Trường-giang với vùng Nam Ngũ-lĩnh vốn cùng
một khí hậu, phong tục, nên họ theo về Nam, không theo về Bắc, thành
thử hồ Động-đình mới thuộc lĩnh địa Việt.

Kết luận: Quả có núi Ngũ-lĩnh phân chia Nam, Bắc Trung-quốc hiện thời,
vậy có thể núi này đúng là nơi phân chia lãnh thổ Văn-lang và
Trung-quốc khi xưa. Ánh sáng đã soi vào nghi vấn huyền thoại.



2. Thiên Đài: Nơi Tế Cáo Của Vua Đế Minh:


Tương truyền vua Đế Minh lập đàn tế cáo trời đất trên núi
Quế-đương, phân chia lãnh thổ Lĩnh- Bắc tức Trung-quốc, Lĩnh-Nam tức
Đại-Việt. Đàn tế đó gọi là Thiên-đài. Nhưng dãy núi Quế-đương có mấy
chục ngọn núi nhỏ, không biết ngọn Thiên-đài là ngọn nào, trên bản đồ
không ghi. Sau tôi hỏi thăm dân chúng thì họ chỉ cho tôi thấy núi
Thiên-đài nằm gần bên bờ Tương giang.

Thiên-đài là ngọn đồi nhỏ, cao 179 mét , đỉnh tròn, có đường thoai
thoải đi lên. Trên đỉnh có ngôi chùa nhỏ, nay để hoang. Tuy chùa được
cấp huyện bảo tồn, nhưng không có tăng ni trụ trì. Chùa xây bằng gạch
nung, mái lợp ngói. Lâu ngày chùa không được tu bổ, nên trên mái nhiều
chỗ bị vỡ, bị khuyết. Tường mất hết vữa, gạch bị mòn, nhiều chỗ gần như
lủng sâu. Duy nền với cổng bằng đá là còn nguyên, tuy nhiều chỗ đá bị
bong ra. Bên trong, cột, kèo bằng gỗ đã nứt nẻ khá nhiều.

Tại thư viện Hồ-Nam, tôi đã tìm được một tài liệu rất cũ, giấy hoen ố,
nhưng chữ viết tay như phượng múa rồng bay, gồm 60 trang. Đầu đề ghi:

"Thiên Đài Di Sự Lục"

Trinh-quán tiến-sĩ Chu-minh-Văn soạn.

Trinh-quán là niên hiệu của vua Đường Thái-tông từ năm Đinh-Hợi (627)
đến Đinh-Mùi (647), nhưng không biết Chu đỗ tiến sĩ năm nào?

Tuy sách do Chu-minh-Văn soạn, nhưng dường như bản nguyên thủy không
còn. Bản này là do người sau sao chép lại vào đời Thanh Khang-Hy. Nội
dung sách có ba phần: Phần của Chu-minh-Văn soạn, phần chép tiếp theo
Chu-minh-Văn của một sư ni pháp danh Đàm-Chi, không rõ chép vào bao
giờ. Phần thứ ba chép pháp danh các vị trụ trì từ khi lập chùa tới thời
Khang-Hy (1662-1722). Chu-minh-Văn là tiến sĩ đời Đường, nên văn của
ông thuộc loại văn cổ rất súc tích, đầy những điển cố, cùng thành ngữ
lấy trong Tứ-thư, Ngũ-kinh cùng kinh Phật. (Nhân viên quản thủ thư viện
thấy tôi đọc dễ dàng, chỉ lướt qua là hiểu ngay, ông ta ngạc nhiên khâm
phục vô cùng. Nhưng nếu ông biết rằng tôi chỉ được học những loại văn
đó từ hồi sáu bẩy tuổi, thì ông sẽ hết phục!) Tài liệu Chu-minh-Văn
cũng nhắc lại việc vua Đế Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với nàng
tiên, sinh ra Lộc-Tục. Vua lập đàn tại núi này tế cáo trời đất, vì vậy
đài mang tên Thiên-đài, núi cũng mang tên Thiên-đài-sơn. Mình-Văn còn
kể thêm: Cổ thời, trên đỉnh núi chỉ có Thiên-đài thờ vua Đế-Minh, vua
Kinh-Đương. Đến thời Đông Hán. một tướng của vua Bà tên Đào-hiển-Hiệu
được lệnh rút khỏi Trường-sa. Khi rút tới Quế-đương, ông cùng nghìn
quân lên Thiên-đài lễ, nghe người giữ đền kể sự tích xưa. Ông cùng quân
sĩ nhất quyết tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm
được núi. Về đời Đường, để xóa vết tích Việt, Hoa cùng Nam, Bắc, các
quan lại được sai sang đô hộ Lĩnh-Nam mới cho xây ngôi chùa tại đây.

Tôi biết vua Bà là vua Trưng. Còn tướng Đào-hiển-Hiệu là em con chú của
Bắc-bình vương Đào-Kỳ, tước phong quốc công, giữ chức Hổ-nha đại tướng
quân. Bà Hoàng-thiều-Hoa chỉ huy trận rút lui khỏi khu Trường-sa, hồ
Động đình, đã sai Hiển-Hiệu đi cản hậu, đóng nút chận ở Thiên đài, đợi
khi quân Lĩnh-Nam rút hết, sẽ rút sau. Nhưng Hiển-Hiệu cùng chư quân
lên núi thấy di tích thơ thời Quốc-tổ, Quốc-mẫu, đã không chịu lui
quân, tử chiến, khiến quân Hán chết không biết bao nhiêu mà kể tại đây.

Ngoài cổng chùa có hai đôi câu đối:

Thoát thân Nam thành xưng sư tổ,

Thọ pháp Tây-thiên diễn Phật-kinh."

(Hai câu này ngụ ý ca tụng thái tử Tất-đạt-Đa đang đêm ra khỏi thành đi
tìm lẽ giải thoát, sau đó đắc pháp ở Tây-thiên, đi giảng kinh.)

Tam bảo linh ứng phong điều vũ thuận, Phật công hiển hách quốc thái dân
an. (Hai câu này ngụ ý nói: Tam bảo linh thiêng, khiến cho gió hòa mưa
thuận, đó là công lao của nhà Phật khiến quốc thái dân an.)

Nơi có dấu vết Thiên đài, còn đôi câu đối khắc vào đá:

"Thiên-đài đại đại phân Nam, Bắc,

Lĩnh-địa niên niên dữ Việt thường."

(Nghĩa là: Từ sau vụ tế cáo ở đây, đài thành Thiên-đài, biết bao thời,
phân ra Nam, Bắc. Núi Ngũ-lĩnh năm này qua năm khác với dòng giống
Việt-thường.)

Chỗ miếu thờ Đào-hiển-Hiệu có đôi câu đối:

"Nhất kiếm Nam hồ, kinh Vũ Đế,

Thiên đao Bắc lĩnh, trấn Lưu-Long."

(Nghĩa là: Một kiếm đánh trận ở phía Nam hồ Động-đình làm kinh tâm vua
Quang-Vũ nhà Hán, một nghìn đao thủ ở bắc núi Ngũ-lĩnh trấn Lưu-Long.)

Kết luận: Như vậy việc vua Đế-Minh tế cáo trời đất là có thực. Vì có
Thiên-đài, nên thời Lĩnh-Nam mới có trận đánh hồ Động-đình. Hai sự kiện
đó chứng tỏ lĩnh địa Văn-lang xưa quả tới núi Ngũ-lĩnh, hồ Động-đình.
Xem lý lịch thành viên

avatar
..::Nh0c_tj::..
Thành viên tích cực
Nam
Age : 26 Registration date : 08/08/2008 Tổng số bài gửi : 597 Đến từ : Một nơi rất xa ! Job/hobbies : ko bít nữa ! :-) Humor : Măm & ngủ ^^


Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử và nguồn gốc dân tộc Việt Nam Sun Sep 21, 2008 8:35 am
3. Cánh Đồng Tương:



Có hai huyền sử nói về cánh đồng Tương:
- Một là
Quốc-tổ dẫn năm mươi con xuống biển. Quốc-mẫu dẫn năm mươi con lên núi,
mỗi năm tái hội nhau trên cánh đồng Tương một lần.

- Hai là Quốc-tổ, Quốc-mẫu truyền các hoàng tử đi bốn phương qui dân lập ấp, mỗi năm hội tại cánh đồng Tương một lần.

Tôi đoán: Cả hai vị quốc tổ Kinh-Đương, Lạc Long sau khi kết hôn, đều
đem Quốc-mẫu lên núi Tam-sơn trên hồ Động-đình hưởng thanh phúc ba năm.
Vậy thì cánh đồng Tương sẽ gần đâu đó quanh hồ Động-đình. Phía Nam hồ
Động-đình là sông Tương-giang, chảy theo hướng Nam-Bắc dài 811 cây số,
lưu vực tới 92,500 cây số vuông, chẻ đôi tỉnh Hồ-nam với Quảng-Tây. Vậy
cánh đồng Tương sẽ năm trong lưu vực Tương-giang. Tôi thuê thuyền đi từ
cảng Dương-lâm nơi phát xuất ra Tương-giang là hồ Động-đình, xuống Nam,
qua Tương-âm tôi dừng lại, nghiên cứu địa thế cùng thăm chùa Bạch-mã.
Đây là địa phận quận Ích-đương. Vô tình tôi tìm ra một nhánh sông
Âu-giang và một cái hồ rất lớn, vào mùa nước lớn rộng tới 4-5 mẫu, vào
mùa nước cạn chỉ còn 2-3 mẫu mà thôi. Suốt lộ trình từ hồ Động-đình trở
xuống, trên sông Tương cũng như hai bên bờ chim âu bay lượn khắp nơi.
Đặc biệt trên Âu-giang, giống chim này càng nhiều vô kể. Từ Âu-giang,
tôi trở lại sông Tương, xuôi tới Trường-sa, thủ phủ của Hồ-Nam, rồi tới
các quận lî Tương-đàm, Chu-châu, Hành-đương, Quế-đương. Không khó nhọc
tôi tìm ra cánh đồng Tương, tức là vùng trũng phía Tây-ngạn, giới hạn
phía Bắc là hồ Động-đình, Nguyên-giang. Phía Nam là Linh-lăng,
Hành-Nam. Phía Tây là vùng Triêu Dương, Lãnh thủy. Nhưng nay cánh đồng
Tương chỉ còn khu vực tứ giác: Tương-giang, Nguyên-giang, Liên-thủy và
Thạch-khê-thủy. Sau khi tìm ra cánh đồng Tương, Thiên-đài, cùng những
đàn chim âu, tôi giải đoán như thế này:

"Quốc-tổ Lạc-Long kết hôn với công chúa con Đế-Lai, hẳn công chúa cũng
có tên. Nhưng vì lâu ngày, người ta không nhớ được tên ngài, nên đã lấy
con chim Âu, rất hiền hòa, xinh đẹp ở vùng hồ Động-đình, Tương-giang,mà
gọi tên là Âu-Cơ (Cơ là bà vợ vua). Vì người ta gọi Quốc-mẫu là Âu Cơ
thì họ nghĩ ngay đến Quốc-mẫu sinh con. Quốc-mẫu là chim Âu, thì phải
đẻ ra trứng. Còn con số một trăm, là con số triết học Việt-Hoa dùng để
chỉ tất cả. Như trăm bệnh là tất cả các bệnh, trăm họ là toàn dân. Trăm
con, có nghĩa là tất cả dân trong nước đều là con của Quốc-mẫu."

Kết luận: Đã có cánh đồng Tương, thì truyện Quốc-tổ, Quốc-mẫu hẹn mỗi
năm hội tại đây một lần là có. Khi sự kiện có núi Ngũ-lĩnh, có
Thiên-đài, nay chứng cớ cánh đồng Tương được kiểm điểm, thì lĩnh địa
của tộc Việt xưa quả tới hồ Động đình.



4. Hồ Động Đình và Núi Tam Sơn:


Hồ Động-đình nằm ở phía Nam sông Trường-giang. Hồ được coi như nới
phát tích ra tộc Việt. Địa khu Bắc sông Trường-giang được gọi là tỉnh
Hồ Bắc, tức đất Kinh-châu thuở xưa. Địa khu phía Nam sông Trường-giang
được gọi là tỉnh Hồ-Nam. Hồ Động-đình nằm trong tỉnh Hồ-Nam. Hồ thông
với sông Trường-giang bằng hai con sông. Cho nên người ta coi hồ như
nơi chứa nước sông Trường-giang, rồi đổ vào cho Tương-giang. Trên
Bắc-ngạn hồ có núi Tam-sơn. Tôi đã lên đây ba lần. Tương truyền các bà
Trưng-Nhị, Trần-Năng, Hồ-Đề, Phật-Nguyệt đánh chiếm Trường-sa vào ngày
đầu năm, vì vậy tôi cũng tới đây vào dịp này để thấy rõ phong cảnh để
còn tả trận đánh trong bộ Cẩm-khê di-hận (6). Hồ rộng 3915 cây số
vuông, độ sâu về mùa cạn là 38.5 mét, về mùa nước lớn là 39.20 mét.Tra
trong chính sử, thì quả hồ Động-đình thuộc lĩnh địa Văn-lang. Như trên
đã nói, triều đại Thần-Nông Bắc đến đời vua Du-Võng thì mất vào năm
2696 trước Tây-lịch, chuyển sang thời đại Hoàng Đế. Sử gia Trung-quốc
cho rằng Hoàng-Đế là tổ lập quốc. Nói theo triết học Tây-phương, thì
vua Du-Võng từ gốc Thần-Nông thuộc nông nghiệp cư trú trong vùng đồng
bằng, ở phương Nam, lấy hỏa làm biểu hiệu nên còn gọi là Viêm-Đế. Còn
vua Hoàng-Đế gốc ở dân du mục, săn bắn, từ phương Bắc xuống. Dân du mục
nghèo, nhưng giỏi chinh chiến. Dân nông nghiệp giầu nhưng không giỏi võ
bị nên bị thua.



Bộ Sử-ký của Tư-mã-Thiên, quyển 1, Ngũ đế bản kỷ chép rằng:

...Thời vua Hoàng Đế, họ Thần-Nông (Bắc) đã suy, chư hầu chém giết lẫn
nhau, khiến trăm họ khốn khổ vô cùng. Vua Du-Võng không đủ khả năng
chinh phục. Vua Hiên-Viên Hoàng Đế thao luyện can qua, chinh phục những
chư hầu hung ác. Vì vậy các nơi theo về rất đông. Trong các chư hầu,
thì Suy-Vưu mạnh nhất.

Vua Du-Võng triều Thần-Nông định đem quân xâm lăng chư hầu, nhưng chư
hầu chỉ tuân lệnh Hoàng Đế. Vua Hoàng Đế tu sửa đức độ, luyện tập binh
mã, vỗ về trăm họ, giúp đỡ bốn phương, luyện tập thú dữ rồi đại chiến
với vua Du-Võng ở Bản-tuyền, thành công.

Suy-Vưu làm loạn, không tuân đế hiệu. Hoàng Đế triệu tập chư hầu, cùng
Suy-Vưu đại chiến ở Trác-lộc, bắt sống Suy-Vưu. Chư hầu tôn ngài làm
Thiên-tử thay họ Thần-Nông. Trong thiên hạ nơi nào không thuận, vua
Hoàng Đế đem quân chinh phạt.

Lãnh thổ của Hoàng Đế: Đông tới biển, vùng núi Hoàn-sơn, Đại-tông; phía
Tây tới núi Không-động, Kê-đầu; Nam tới Giang, Hùng, Tương... (7)


Sông Giang đây tức là sông Trường-giang. Hùng đây là Hùng-nhĩ-sơn,
Tương là Tương-sơn. Bùi-Nhân đời Tống tập giải Sử-ký nói rằng Tương-sơn
thuộc Trường-sa.

Kết luận: Từ chính sử, huyền sử đều cho biết lĩnh địa Văn-lang tới hồ
Động-đình. Khi vua Hoàng Đế dứt triều Thần-Nông Bắc, thì triều
Thần-Nông Nam tức họ Hồng-bàng còn kéo dài tới 2439 năm nữa. Lĩnh thổ
Trung-quốc thời Hoàng Đế cũng chỉ tới sông Trường-giang. Từ Nam bao gồm
khu Trường-sa hồ Động đình vẫn thuộc Văn-lang. Khi chính sử ghi chép
như vậy, thì việc Quốc-tổ, Quốc-mẫu với hồ Động-đình, núi Tam-sơn,
không còn là huyền thoại nữa, mà thành sự thực lịch sử. Vậy truyện các
ngài lên núi hưởng thanh phúc nên ghi vào chính sử.



5. Biên Giới Lĩnh Địa Tộc Việt Thế Kỷ Thứ Hai Trước Tây Lịch:



Sử Hán- Việt đề đều ghi rằng vào thế kỷ thứ nhì trước Tây-lịch,
thời Triệu-Đà cai trị lĩnh địa tộc Việt, biên giới vẫn còn ở vùng
Trường-sa, hồ Động-đình. Sử Hán, sử Việt đều chép chi tiết giống nhau
về vụ Triệu-Đà lập quốc ở lãnh thổ Lĩnh-Nam. Tần-thủy-Hoàng sai Đồ-Thư
mang quân sang đánh Âu-Lạc, chiếm được vùng đất phía Bắc, lập làm ba
quận: Nam-hải (Quảng Đông và một phần Phước-kiến), Quế-lâm (Quảng-tây,
Hồ-Nam và một phần Quý-châu), Tượng-quận (Vân-Nam và một phần
Quý-châu). Vua An-Dương Vương sai Trung-tín hầu Vũ-Bão-Trung và
Cao-cảnh hầu Cao-Nỗ đem quân chống, giết được Đồ-Thư, tiêu diệt nửa
triệu quân Tần. Tuy vậy vua An-Dương Vương cũng không chiếm lại vùng
đất đã mất.

Sau nhân thời thế loạn lạc, một viên quan Tần là Triệu-Đà trấn vùng
Nam-hải, đem quân chiếm vùng Tượng-quận, Quế-lâm, rồi dùng gián điệp
trong vụ án Mî-Châu, Trọng-Thủy mà chiếm được Âu-lạc, lập ra nước
Nam-Việt. Lĩnh thổ nước Nam-Việt gồm những vùng nào? Không một sử gia
chép rõ ràng. Nhưng cứ những sự kiện lẻ tẻ, ta cũng có thể biết rằng
lĩnh địa Nam-Việt là lĩnh địa thời Văn-lang.

Trong khi Triệu-Đà lập nghiệp ở phương Nam, thì cuộc nội chiến ở phương
Bắc chấm dứt: Hạng-Vũ, Lưu-Bang diệt Tần, rồi Lưu-bang thắng Hạng-Vũ
lập ra nhà Hán. Lưu-Bang lên ngôi vua, sai Lục-Giả sang phong chức tước
cho Triệu-Đà. Đúng ra Triệu-Đà cũng không chịu thần phục nhà Hán, nhưng
họ hàng, thân thuộc, mồ mả của Đà đều ở vùng Chân-Định. Đà sợ nhà Hán
tru diệt họ hàng, cùng đào mồ cuốc mả tổ tiên mà phải lùi bước.

Năm 183 trước Tây-lịch, Cao-tổ nhà Hán là Lưu-Bang chết, Lã-hậu chuyên
quyền, cấm bán hạt giống, thú vật cái, kim khí sang Nam-Việt. Triệu-Đà
không thần phục nhà Hán, xưng đế hiệu, rồi đem quân đánh Trường-sa,
Nam-quận.

Trường-sa là quận biên cương của Hán, vậy ít nhất lãnh thổ Nam-Việt,
Bắc tới Trường-sa. Nam-quận là quận ở phía Bắc sông Trường-giang. Mà
Nam-quận là quận biên cương Hán, thì biên giới Nam-Việt ít nhất tới Nam
ngạn sông Trường-giang.



6. Lĩnh Địa Về Thời Vua Trưng:


Trong những năm 1978-1979 khi dẫn phái đoàn y khoa nghiên cứu tại
các tỉnh cực nam Trung-quốc như Quảng Đông, Quảng-Tây, Vân-Nam,
Quý-Châu, tôi tìm ra khắp các tỉnh này, không ít thì nhiều đều có đạo
thờ vua Bà. Nhưng tôi không tìm được tiểu sử vua Bà ra sao. Ngay những
cán bộ Trung-quốc ở địa phương, họ luôn đề cao vua Bà, mà họ cũng chỉ
biết lờ mờ rằng vua Bà là người nổi lên chống tham quan. Khắp bốn tỉnh,
tôi ghi chú được hơn trăm đền, miếu thờ những tướng lĩnh thời vua Bà.

Bây giờ tôi lại tìm thấy ở Hồ-Nam nhiều di tích về đạo thờ vua Bà hơn.
Tại thư viện bảo tồn di tích cổ, tôi tìm thấy một cuốn phổ rất cổ, soạn
vào thế kỷ thứ tám chép sự tích nữ vương Phật-Nguyệt như sau:

"Ngày xưa, Ngọc-Hoàng thượng đế ngự trên điện Linh-tiêu, có hai công
chúa đứng hầu. Vì sơ ý, hai công chúa đánh vỡ chén ngọc. Ngọc-Hoàng
thượng đế nổi giận lôi đình, truyền đầy hai công chúa xuống hạ giới.
Hai công chúa đi đầu thai được mấy ngày, thì tiên-lại giữ sổ tiên giới
tâu rằng có 162 tiên đầu thai xuống theo hai công chúa.Ngọc-Hoàng
thượng đế sợ công chúa làm loạn ở hạ giới, ngài mới truyền Thanh-Y đồng
tử đầu thai theo để dẹp loạn. Thanh-Y đồng tử sợ địch không lại hai
công chúa, có ý ngần ngừ không dám đi. Ngọc-Hoàng thượng đế truyền
Nhị-thập bát tú đầu thai theo.

Thanh-Y đồng tử đầu thai, sau là vua Quang-Vũ nhà Hán, Nhị-thập bát tú
đầu thai thành hai mươi tám vị văn thần võ tướng thời Đông-Hán. Còn hai
công chúa đầu thai xuống quận Giao-Chỉ, vào nhà họ Trưng. Chị là
Trưng-Trắc, em là Trưng-Nhị. Lúc Trưng-Trắc sinh ra có hương thơm đầy
nhà, lớn lên thông minh quán chúng, có sức khỏe bạt sơn cử đỉnh; được
gả cho Đặng-thi-Sách. Thi-Sách làm phản, bị thái thú Tô-Định giết chết.
Trưng-Trắc cùng em là Trưng-Nhị phất cờ khởi nghĩa, được 162 anh hùng
các nơi nổi lên giúp sức, nên chỉ trong một tháng chiếm hết sáu quận
Trung-quốc ở phía nam sông Trường-giang: Cửu-Chân, Nhật-Nam, Giao-Chỉ,
Quế-Lâm, Tượng-quận, Nam-Hải. Chư tướng tôn Trưng-Trắc lên làm vua,
thường gọi là vua Bà.

Vua Quang-Vũ nhà Đông-Hán sai Phục-Ba tướng quân Tân-tức hầu,
Long-nhương tướng quân Thận-hầu Lưu-Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai
nữ vương Phật-Nguyệt tổng trấn hồ Động đình. Mã-Viện, Lưu-Long bị bại.
Vua Quang-Vũ truyền Nhị-thập bát tú nghênh chiến, cũng bị bại. Nữ vương
Phật-Nguyệt phép tắc vô cùng, một tay nhổ núi Nga-mi, một tay nhổ núi
Thái-sơn, đánh quân Hán chết xác lấp sông Trường-giang, hồ Động-đình,
oán khí bốc lên đến trời. Ngọc-Hoàng thượng đế sai thiên binh, thiên
tướng trợ chiến, cũng bị bại. Ngài phải sai thần Du-Liệt sang
Tây-phương cầu cứu Phật Như-Lai. Đức Phật sai mười tám vị Kim-Cương, ba
nghìn La-Hán trợ chiến cũng bị bại. Cuối cùng ngài truyền Quan-Thế-Âm
bồ tát tham chiến. Nữ vương Phật-Nguyệt với Quan-Thế-Âm đấu phép ba
ngày ba đêm, bất phân thắng bại. Sau Quan-Thế-Âm thuyết pháp, nữ vương
Phật-Nguyệt giác ngộ, bỏ đi tu."

Ta nhân ngày lành, viết lại chuyện xưa, xin dâng đôi câu đối:



Tích trù Động đình uy trấn Hán,

Danh lưu thanh sử lực phù Trưng.

(Nghĩa là: Một trận Động-đình uy rung Hán tên còn trong sử sức phò Trưng)

Như thế, tôi đã tìm ra được: Đạo thờ vua Bà tại năm tỉnh Nam Trung-quốc
là di tích của lòng tôn kính thờ anh hùng dân tộc của tộc Việt trên
lãnh thổ cũ của người Việt còn sót lại. Vua Bà, mà người Trung-hoa thờ
như một thứ tôn giáo, chính là vua Trưng.

Kết luận: Quả có nữ vương Phật-Nguyệt đánh trận Trường-sa hồ Động đình.
Mà có trận hồ Động-đình thì lãnh thổ thời Lĩnh-Nam quả tới phía Nam
sông Trường-giang.

Huyền sử nói rằng: Khi bà Trưng-Nhị cùng các tướng Trần-Năng, Hồ-Đề,
Phật-Nguyệt, Lại-thế-Cường đánh Trường-sa vào đầu năm Kỷ-Hợi (39 sau
Tây-lịch), thì nữ tướng Trần-thiếu-Lan tử trận, được mai táng ở ghềnh
sông Thẩm-giang (8). Thẩm-giang chính là đoạn sông ngắn ở Bắc tiếp nối
với hồ Động-đình. Một cuốn phổ khác, chép vào thời Nguyễn nói rằng: Các
sứ thần Lý, Trần, Lê khi qua đây đều có sắm lễ đến cúng miếu thờ bà
Trần-thiếu-Lan. Cho nên năm 1980, tôi đã đến đây tìm hiểu. Không khó
nhọc, tôi tìm ra trong cuốn địa phương chí, do sở du lịch Trường-sa
cung cấp, một đoạn chép "Miếu thờ liệt nữ Trần-tiểu-Lan ở đầu sông
Tương. Hồi cách mạng văn hóa bị phá hủy. Tượng đồng bị nấu ra. Vệ binh
đỏ phá luôn cả bia đá". Tôi tìm tới nơi thì miếu chỉ còn lại cái nền
bằng đá ông, mộ vẫn còn. (9)
Xem lý lịch thành viên

avatar
..::Nh0c_tj::..
Thành viên tích cực
Nam
Age : 26 Registration date : 08/08/2008 Tổng số bài gửi : 597 Đến từ : Một nơi rất xa ! Job/hobbies : ko bít nữa ! :-) Humor : Măm & ngủ ^^


Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử và nguồn gốc dân tộc Việt Nam Sun Sep 21, 2008 8:35 am
7.Nghiên Cứu Những Khai Vật:


Vào những năm 1964-1965, giáo sư thạc sĩ luật khoa Vũ-văn-Mẫu đang
soạn thảo tài liệu về cổ luật Việt Nam. Người giúp giáo sư Mẫu đọc sách
cổ là Hoàng-triều tiến sĩ Nguyễn-sỹ-Giác. Cụ Giác tuy thông kinh điển,
thư tịch cổ nhưng lại không biết ngoại ngữ, cùng với phương pháp phân
tích, tổng hợp Tây-phương. Cụ giới thiệu tôi với giáo sư Mẫu. Tôi với
cụ đã giúp giáo sư Mẫu đọc, soán các thư tịch liên quan đến cổ luật.
Chính vì vậy tập tài liệu "Cổ-luật Việt-Nam và tư -pháp-sử" có chương
mở đầu "Liên hệ giữa nguồn gốc dân tộc và Cổ-luật Việt-Nam"(10). Bấy
giờ tôi còn trẻ, lại không có đủ tài liệu khai quật của Trung-quốc, của
Bắc Việt-Nam, nên có nhiều chi tiết sai lầm nhỏ. Hôm nay đây, tôi xin
lỗi anh linh Hoàng-triều tiến sĩ Nguyễn-sỹ-Giác, anh linh giáo sư
Vũ-văn-Mẫu, xin lỗi các vị đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi các vị sinh
viên về những sai lầm đó.

Triều đại Hồng-Bàng của tộc Việt xuất phát từ năm 2879 trước Tây-lịch,
tương đương với thời đại đồ đá mài (le néolithique), tức cuối thời đại
văn hóa Bắc-sơn (11). Trong những khai quật về thời đại này tại Bắc
Việt, Đông Vân-Nam, Quảng Đông, Hồ-Nam, người ta đều tìm được những
chiếc rìu thiết diện hình trái xoan, trong khi tại Nhật, Bắc
Trường-giang lại chỉ tìm được loại rìu thiết diện hình chữ nhật, chứng
tỏ vào thời đó, có một thứ văn hóa tộc Việt giống nhau.

Sang thời đại văn hóa Đông-sơn (12) hay đồ đồng (age du bronze): Trong
thời gian này đã tìm được trống đồng Đông-sơn bên bờ sông Mã
(Thanh-Hóa) Sự thực trống đồng đã tìm thấy ở toàn bộ các tỉnh Nam
Trường-giang như Hồ-Nam, Quý-Châu, Vân-Nam, Quảng-Đông, Quảng-Tây;
Nam-Đương, Lào (13), Bắc và Trung-Việt. Nhưng ở Nam-Đương, Lào rất ít.
Nhiều nhất ở Bắc Việt rồi tới Vân-Nam, Lưỡng-quảng. Phân tích thành
phần, gần như giống nhau: Đồng 55%, thiếc 15-16%, chì 17-19%, sắt 4%.
Một ít vàng, bạc.

Khảo về y phục, mồ mả, cùng xương trong các ngôi mộ, qua các thời đại,
cho đến hết thế kỷ thứ 1 sau Tây-lịch, tôi thấy trong các vùng Nam
Trường-giang cho đến Trung, Bắc-Việt, cùng Lào, Thái đều giống nhau.
Tôi đi đến kết luận: Tộc Việt quả có lĩnh địa Bắc tới hồ Động đình, Tây
tới Tứ-xuyên như cổ sử nói.



E. Tổng Kết


Các bạn đã cùng tôi đi vào những chi tiết từ huyền thoại, huyền
sử, cổ sử, cùng triết học, suy luận để tìm về nguồn gốc dân tộc
Việt-Nam. Trong chính sử Việt đều ghi rõ ràng về nguồn gốc tộc Việt.
Hồi thơ ấu, tôi sống bên cạnh những nhà nho, chỉ đọc sách chữ Hán của
người Hoa, người Việt viết. Mà những sách này đều chép rằng tộc Việt
gồm có trăm họ khác nhau, mang tên Bách-Việt. Những tên như Âu Việt,
Lạc Việt, Đông Việt, Nam Việt, Việt Thường đều thuộc Bách Việt cả. Cái
tên trăm họ, hay trăm Việt (Bách Việt) phát xuất từ huyền thoại nói vua
Lạc Long sinh ra trăm con. Trăm có nghĩa là toàn thể, tất cả, chứ không
hoàn toàn là con số như ta tưởng ngày nay (14).Các vị cổ học học sổ sử,
rồi coi lĩnh địa tộc Việt bao gồm phía Nam sông Trường-giang, lấy mốc
là hồ Động-đình, với sông Tương, núi Ngũ-lĩnh là đương nhiên. Chính hồi
nhỏ, khi học tại trường Pháp, vào thời kỳ 10-14 tuổi, tôi chỉ được học
những bài ngắn ngủi và trang về nguồn gốc tộc Việt; trong khi đó gia
đình cho tôi đọc những bộ sử dài hàng mấy chục nghìn trang của Hoa, của
Việt. (Nếu dịch sang chữ Việt số trang gấp bốn, sang Pháp, Anh văn, số
trang gấp 5-6). Chính tôi cũng nhìn nguồn gốc tộc Việt, lĩnh thổ tộc
Việt tương tự như các nhà cổ học. Phải chờ đến khi tôi ra trường
(1964). Bấy giờ giáo sư Vũ văn Mẫu thạc sĩ luật khoa nhờ Hoàng triều
tiến sĩ Nguyễn-sĩ-Giác sưu tầm tài liệu cổ luật. Cụ Giác học lối cổ,
không biết những phương pháp qui nạp, tổng hợp, nên giới thiệu giáo sư
Mẫu với tôi. Ngay lần đầu gặp nhau, một già, một trẻ mà có hai cái nhìn
khác biệt. Giáo sư Mẫu trên 50 tuổi lại có cái nhìn rất trẻ. Tôi mới 25
tuổi lại có cái nhìn rất già về nguồn gốc tộc Việt. Qua cuộc trao đổi
sơ khởi, bấy giờ tôi mới biết có rất nhiều thuyết nói về nguồn gốc dân
tộc Việt, mà các tác giả thiếu cái học sâu xa về cổ học Hoa Việt đưa
ra. Vì vậy tôi đã sưu tầm tất cả những gì trong thư tịch cổ, giúp giáo
sư Vũ-văn-Mẫu đem viết thành tài liệu giảng dạy. Nhưng sự sưu tầm đó
không đầy đủ, vì chỉ căn cứ trên thư tịch cổ. Nay tôi mới biết là có
một vài sai lầm, tôi xin lỗi các đồng nghiệp hiện diện.

- Từ cổ : Tộc Việt sống rải rác từ phía Nam sông Trường-giang, xuống mãi vịnh Thái-lan.

- Sau này tộc Việt, tộc Mã đã giao tiếp với nhau ở vùng Kampuchea, Nam
Việt- Nam Tộc Việt hỗn hợp với tộc Ấn ở phía tây Thái-lan.- Giống Thái,
một trong Bách-Việt chính là tộc Thái từ Tượng-quận, Bắc Việt di chuyển
xuống lập ra nước Lào, nước Thái.

- Người Việt từ sông Trường Giang, từ Phúc-kiến di cư xuống Bắc Việt,
không có nghĩa ở Bắc Việt không có giống Việt, phải đợi họ di cư xuống
mới có. Mà có nghĩa là người Việt di chuyển trong đất Việt.
Xem lý lịch thành viên

avatar
..::Nh0c_tj::..
Thành viên tích cực
Nam
Age : 26 Registration date : 08/08/2008 Tổng số bài gửi : 597 Đến từ : Một nơi rất xa ! Job/hobbies : ko bít nữa ! :-) Humor : Măm & ngủ ^^


Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử và nguồn gốc dân tộc Việt Nam Sun Sep 21, 2008 8:36 am
Các cuộc khảo cổ gần đây đã chứng minh sự tồn tại của con người trên
lãnh thổ Việt Nam từ thời Đồ đá cũ (300.000 -500.000 năm). Vào thời kỳ
Đồ đá mới, các nền văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn (gần 10.000 năm trước CN)
đã chứng tỏ sự xuất hiện của nông nghiệp và chăn nuôi, có thể là cả
nghệ thuật trồng lúa nước.



Dân tộc Việt Nam đã được hình thành và bước đầu phát triển trên vùng
châu thổ sông Hồng và sông Mã phía Bắc của Việt Nam ngày nay. Con người
từ các vùng đồi núi xuống vùng đồng bằng, từ đời này sang đời khác đã
khai hoá đất để trồng trọt. Họ đã tạo ra một hệ thống đê điều để chế
ngự dòng sông Hồng gây nhiều lũ lụt hàng năm. Quá trình lao động không
ngừng để chế ngự nước - chống lũ, lụt, bão, hạn hán, xây dựng đê điều,
đào kênh phục vụ cho việc trồng lúa - đã tạo nên nền văn minh lúa nước
và văn hoá làng xã.



Vào thời đại Đồ đồng đã ra đời một nền văn minh thống nhất và độc đáo,
đạt mức độ kỹ thuật và nghệ thuật cao, nền văn minh Đông Sơn rực rỡ.
Các nghiên cứu nhân chủng, lịch sử và khảo cổ gần đây đã khẳng định sự
tồn tại một thời kỳ các Vua Hùng khoảng 1000 năm trước Công nguyên trên
Vương quốc Văn Lang, sau đó đổi tên là âu Lạc. Đến thế kỷ thứ hai trước
Công nguyên, Ấu Lạc đã bị xâm chiếm và sát nhập vào đế chế phong kiến
Hán hùng mạnh ở phương Bắc. Nhưng sự thống trị của phong kiến Trung Hoa
kéo dài mười thế kỷ đã không bẻ gẫy được sức kháng cự của dân tộc và
không đồng hoá được nền văn hoá Việt Nam.



Vào thế kỷ thứ mười sau Công nguyên đất nước đã giành được độc lập vững
chắc và xây dựng một nhà nước độc lập mang tên Đại Việt. Đất nước đã
trải qua nhiều triều đại vua chúa phong kiến mà quan trọng nhất là
triều Lý (thế kỷ11 và 12), triều Trần (thế kỷ 13 và 14), triều Lê (thế
kỷ 15, 16 và 17) với một nền hành chính tập quyền, một lực lượng quân
đội mạnh, một nền kinh tế và văn hoá phát triển cao. Trong suốt thời kỳ
này, Việt Nam phải liên tục đấu tranh chống lại các âm mưu xâm lược của
các đế chế phong kiến Trung Hoa và Mông Cổ. Các cuộc kháng chiến lâu
dài và gian khổ chống quân xâm lược Tống (thế kỷ 11), Nguyên (thế kỷ
13), Minh (thế kỷ 15) đã giành những thắng lợi vang dội. Sau mỗi cuộc
kháng chiến, Việt Nam trở nên mạnh hơn, các dân tộc đoàn kết hơn và đất
nước bước vào một thời kỳ cường thịnh mới.



Nền văn hoá Đông Sơn được bổ sung bởi ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa
đã phát triển qua nhiều thế kỷ trong khuôn khổ một nhà nước độc lập.
Phật giáo, Nho giáo, Khổng giáo thâm nhập vào Đại Việt mang theo nhiều
yếu tố văn hoá quần chúng và nhiều hình thức đặc biệt. Tuy vậy, Việt
Nam vẫn có ngôn ngữ riêng và một nền văn minh nông nghiệp phát triển
khá cao.


Đến thế kỷ 17 và 18, chế độ phong kiến Việt Nam suy yếu nghiêm
trọng. Các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tục diễn ra đã dẫn đến phong
trào Tây Sơn (1771-1802). Tây Sơn đã tiêu diệt các chế độ vua chúa cát
cứ, thống nhất đất nước, đánh đuổi quân xâm lược Thanh (Trung Quốc)
đồng thời ban hành nhiều cải cách xã hội và văn hoá. Nhưng không lâu
sau đó với sự giúp đỡ của ngoại bang, Nguyễn ánh đã giành được quyền
thống trị và lập nên triều đình nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối
cùng ở Việt Nam.


Vào giữa thế kỷ 19 (1858), thực dân Pháp bắt đầu cuộc xâm chiếm
Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn bất lực đã dần dần nhân nhượng quân xâm
lược và từ năm 1884 Pháp thiết lập chế độ bảo hộ và thuộc địa trên toàn
bộ lãnh thổ Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu, các phong trào kháng
chiến quần chúng dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước nổ ra ở khắp
mọi nơi, nhưng cuối cùng đều thất bại.



Nguyễn ái Quốc, sau đó trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã hoạt động ở
nước ngoài để tìm con đường cứu nước. Người đã sáng lập Đảng Cộng sản
Việt Nam vào ngày 3/2/1930. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, quần
chúng nhân dân đã đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp và quân chiếm
đóng Nhật, thực hiện cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 và thành lập
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 2/9/1945.


Nước Việt Nam non trẻ vừa mới ra đời lại phải đương đầu với các âm
mưu xâm lược và can thiệp của Pháp và Mỹ, phải tiến hành cuộc chiến
tranh giải phóng dân tộc kéo dài suốt 30 năm sau đó. Trước hết, sự trở
lại xâm lược của Pháp đã gây ra cuộc kháng chiến 9 năm (1945-1954) của
Việt Nam, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève
về Việt Nam năm 1954. Theo Hiệp định này, đất nước tạm thời bị chia làm
hai vùng lãnh thổ miền Bắc và miền Nam lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến
và sẽ được thống nhất hai năm sau đó (1956) thông qua một cuộc tổng
tuyển cử. Miền Bắc Việt Nam vào thời kỳ nay mang tên Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động với Thủ đô là Hà Nội. Miền
Nam mang tên Việt Nam Cộng hoà nằm dưới sự quản lý của chính quyền thân
Pháp, rồi thân Mỹ đặt tại Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn sử dụng mọi sức
mạnh để ngăn chặn cuộc tổng tuyển cử, đàn áp và loại bỏ những người
kháng chiến cũ, do vậy xuất hiện phong trào đấu tranh vì hoà bình,
thống nhất đất nước. Chính quyền Sài Gòn đã không thể ngăn cản được
nguyện vọng thống nhất đất nước của quần chúng, đặc biệt từ ngày Mặt
trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, ngày
20/12/1960.


Để duy trì Chế độ Sài Gòn, Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự. Đặc
biệt kể từ giữa thập kỷ 60 Mỹ đã gửi nửa triệu quân Mỹ và đồng minh đến
miền Nam Việt Nam trực tiếp tham chiến, và từ 5/8/1964 bắt đầu ném bom
miền Bắc Việt Nam. Nhưng nhân dân Việt Nam, theo lời dạy của Chủ Tịch
Hồ Chí Minh "Không có gì quý hơn độc lập tự do", đã đứng vững và giành
nhiều thắng lợi ở cả hai miền Nam và Bắc. Năm 1973, Washington buộc
phải ký hiệp định Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam và rút toàn bộ
quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam. Mùa xuân năm 1975, trên tinh thần đại
đoàn kết dân tộc và được sự đồng tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình,
công lý và tiến bộ trên thế giới, các lực lượng vũ trang yêu nước Việt
Nam đã thực hiện cuộc tổng tiến công đè bẹp Chính quyền Sài Gòn, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước.



Ngày 25/4/1976, nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà được đổi tên thành nước
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt nam với lãnh thổ bao gồm cả hai miền Nam
và Bắc.



Năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc.


Sau nhiều năm chiến tranh kéo dài, đất nước bị tàn phá nặng nề. Từ
năm 1975 đến 1986, Việt Nam phải đối phó với vô vàn khó khăn. Những hậu
quả và tệ nạn xã hội do chiến tranh để lại, dòng người tị nạn, chiến
tranh ở biên giới Tây Nam chống diệt chủng Khme đỏ, chiến tranh ở biên
giới phía Bắc, bao vây, cấm vận của Mỹ và các nước phương Tây, thêm vào
đó thiên tai liên tiếp xảy ra... đã đặt Việt Nam trước những thử thách
khắc nghiệt. Hơn nữa, những khó khăn càng trầm trọng do xuất phát từ
các nguyên nhân chủ quan, nóng vội và duy ý chí muốn xây dựng lại đất
nước nhanh chóng mà không tính đến những điều kiện cụ thể. Vào đầu
những năm 80, khủng hoảng kinh tế - xã hội ở Việt Nam trở nên gay gắt,
tỉ lệ lạm phát lên đến 774,7% vào năm 1986.


Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc Đổi mới toàn
diện nhằm vượt qua khó khăn, đi vào vào con đường phát triển và từng
bước hội nhập khu vực và quốc tế. Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam
tháng 12/1986 đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo của mình, khẳng định
những mặt làm được, phân tích những sai lầm khuyết điểm, đề ra đường
lối Đổi mới toàn diện trong đó đổi mới kinh tế được đặt lên hàng đầu
với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng
XHCN, đi đôi với việc tăng cường cơ sở pháp lý, đổi mới tổ chức Đảng và
Nhà nước. Nền kinh tế Việt Nam thực sự mở cửa, chuyển từ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp dựa trên việc nhập khẩu và nhận viện trợ của
nước ngoài sang cơ chế thị trường, tự chủ về tài chính nhằm cân bằng
ngân sách nhà nước và hướng tới xuất khẩu. Trước năm 1989 hàng năm Việt
Nam đều phải nhập khẩu lương thực, có năm trên 1 triệu tấn. Từ năm
1989, Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu 1-1,5 triệu tấn gạo mỗi năm; lạm
phát giảm dần (đến năm 1990 còn 67,4%). Đời sống của nhân dân được cải
thiện, dân chủ trong xã hội được phát huy. Quốc phòng, an ninh được giữ
vững. Quan hệ đối ngoại được mở rộng, đẩy lùi tình trạng bao vây, cô
lập.



Tháng 6 năm 1991, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định lại
quyết tâm tiếp tục chính sách Đổi mới của Việt Nam với mục tiêu vượt
qua khó khăn, thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng
cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa đất
nước cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng. Đại hội cũng đề ra chính
sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở đa dạng hoá và đa phương hoá
quan hệ với mục tiêu Việt Nam "muốn làm bạn với tất cả các nước trong
cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển."



Mặc dù bị tác động sâu sắc do việc Liên Xô, Đông Ấu tan rã, các thị
trường truyền thống bị đảo lộn; tiếp tục bị bao vây cấm vận và phải đối
phó với các âm mưu hoạt động gây mất ổn định chính trị và bạo loạn lật
đổ của các thế lực thù địch, Việt Nam đã từng bước khắc phục khó khăn,
trở ngại, tiếp tục giành nhiều thắng lợi to lớn. Từ năm 1991-1995 nhịp
độ tăng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2%.
Đến tháng 6/1996, đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt trên 30,5 tỷ USD.
Lạm phát giảm từ mức 67,1% (1991) xuống còn 12,7% (1995) và 4,5%
(1996). Đời sống vật chất của phần lớn nhân dân được cải thiện. Trình
độ dân trí, mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân được nâng lên. Sự nghiệp
giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, các hoạt động văn hoá nghệ thuật
thể dục thể thao, thông tin đại chúng, công tác kế hoạch hoá gia đình
và nhiều hoạt động xã hội khác có những mặt phát triển và tiến bộ.
Chính trị ổn định, độc lập chủ quyền và môi trường hoà bình của Việt
Nam được giữ vững, quốc phòng an ninh được củng cố tạo điều kiện thuận
lợi cơ bản cho công cuộc Đổi mới. Hệ thống chính trị từ trung ương đến
cơ sở được củng cố, bộ máy nhà nước pháp quyền được tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện. Chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hoá và đa
dạng hoá quan hệ của Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt đẹp. Đến
nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 164 nước, có quan hệ
buôn bán với trên 100 nước. Các công ty của hơn 50 nước và vùng lãnh
thổ đã đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.



Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, tháng 6/1996 đã đánh giá
những thành tựu to lớn có ý nghĩa rất quan trọng trong 10 năm Đổi mới
(1986-1996) và đề ra mục tiêu phát triển đến năm 2000 và 2020 là : đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện
đại hoá là xây dựng Việt Nam thành một nước công nghiệp có cơ sở vật
chất-kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến
bộ, phù hợp với trình độ sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao,
quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa Việt Nam cơ bản trở
thành một nước công nghiệp.
Xem lý lịch thành viên

avatar
kimheechul1310
Mod
  Mod
Nữ
Age : 27 Registration date : 31/05/2008 Tổng số bài gửi : 825 Đến từ : Vạn Phúc - Hà Đông Job/hobbies : Ăn, nghe nhạc, xem tivi, đọc truyện-sách, đi du lịch đó đây... Humor :


Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử và nguồn gốc dân tộc Việt Nam Wed Sep 24, 2008 3:44 pm
+60 điểm oni5
nh0c sung ghê ta, post bài k bít mệt là j hết. Thế bố mẹ k cấm lên mạng ah? Năm nay thi rùi còn j? oni14
_________________
Xem lý lịch thành viên


Sponsored content



Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử và nguồn gốc dân tộc Việt Nam
Lịch sử và nguồn gốc dân tộc Việt Nam Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum: Bạn không có quyền trả lời bài viết
Chocoland :: 

-‘๑’- Thế giới giải trí -‘๑’-

 :: 

Choco land - Nghệ thuật sống

 :: 

Văn hoá các nước

-